“Anh như ngàn gió, ham ngược xuôi theo đường mây…”
(Mấy dặm sơn khê, Nguyễn Văn Ðông) Hôm ấy, tôi còn nhớ, một chiều hè năm 1969, chúng tôi ngồi ở một quán nước quen dọc bờ biển Nha Trang. Bên cạnh tôi là H., người
bạn học cũ. Ðã lâu lắm chúng tôi mới gặp lại nhau kể từ ngày rời xa mái
trường cũ ở một thị trấn miền cao nguyên đất đỏ. H. cho biết anh sắp
sửa nhập ngũ, thì giờ rảnh rỗi như thế này sẽ chẳng còn được bao lâu
nữa. Anh ta có người yêu ở thành phố biển này. Tôi thì vẫn lang thang
trên sân trường đại học, tấm giấy chứng chỉ hoãn dịch trong tay vẫn còn
hiệu lực…
Bà tên thật là Nguyễn Kim Tước, sinh năm 1938 tại Nam Định trong một gia
đình có 6 người con. Khi còn nhỏ, Kim Tước được theo học chương trình
Pháp tại Hà Nội và Huế. Sau đó cô theo học trung học tại trường Lycée
Francais De Hue, rồi trường Marie Curie ở Sài Gòn và đậu tú tài Pháp năm
1957.
Ca sĩ Mộc Lan là ca sĩ tài danh cùng thời với : Thái
Thanh, Tâm Vấn, Kim Tước…cách đây hơn nửa thế kỷ; bà nổi tiếng với nhiều
bài hát, trong đó có “Em đi chùa Hương” do nhạc sĩ Trần Văn Khê chuyển
thành ca khúc, rất được giới sành điệu thời ấy ưa thích.
Mộc Lan làm vợ nhạc sĩ Châu Kỳ một thời gian ngắn ở Huế. Sau đó
Châu Kỳ phải lòng cô nữ sinh Gia Long tên là Kha Thị Đàng và và ở với cô
này cho đến cuối đời. Còn Mộc Lan thì lấy Trương Minh Đẩu.
Bây giờ bà về dung thân ở một căn nhà có diện tích rất nhỏ, cuối
tận cùng con hẻm, đi ngang qua nhà họa sĩ Lưu Nhữ Thụy trên đường Trương
Minh Giảng cũ. Bà hiện hữu rất cô độc, càng cô độc hơn khi sống bên
cạnh bà là người con gái ngoài 50 tuổi có cân não không bình thường.
Lệ
Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh ngày 16 tháng 07 năm 1943 tại Hải
Phòng, nhưng trải qua thời thơ ấu ở Hà Đông. Bố mẹ Lệ Thu sinh được tất
cả 8 người con, nhưng 7 người con đầu đều qua đời vào năm lên 3 tuổi. Do
đó Lệ Thu là người con duy nhất còn lại trong gia đình. Mẹ Lệ Thu là
người vợ thứ hai, vì những khó khăn do người vợ cả gây nên, năm 1953 Lệ
Thu cùng mẹ vào miền Nam sinh sống.
Trong khi đang theo học bậc
trung học Pháp tại trường Les Lauriers, vào năm 1959 trong một lần đến
phòng trà Bồng Lai nghe nhạc, do sự khuyến khích của bạn bè, Lệ Thu bước
lên sân khấu trình bày nhạc phẩm Dang dở. Ngay sau đó, ông chủ phòng
trà đã mời Lệ Thu ký giao kèo biểu diễn. Cũng từ đó cô lấy nghệ danh Lệ
Thu, trong một cuộc phỏng vấn, Lệ Thu trả lời: "Tôi lấy tên Lệ Thu vì
tôi giấu gia đình. Thật ra tên đó nó không có trong tiềm thức của tôi
nhưng tự nhiên nó bật ra, tôi không hiểu từ đâu". Sau khi nhận lời cộng
tác với phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu vẫn tiếp tục đi học nhưng một thời
gian sau cô quyết định nghỉ học để theo đuổi con đường ca hát.
Theo
sau Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh
Phát và kế đó là vũ trường Tự Do vào năm 1962. Thời kỳ đó Lệ Thu thường
trình bày những nhạc phẩm lời Pháp và Anh, nổi bật nhất là các bản như
La Vie En Rose, A Certain Smile, La Mer, Love Is A Many Splendored
Thing... Cũng thời gian đó Lệ Thu thành hôn với một người đi học ở Pháp
về tên Sơn.
Lệ
Thu dần nổi tiếng và trở thành một ca sĩ quan trọng của các vũ trường
lớn ở Sài Gòn. Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một
trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do và
Ritz. Năm 1968, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại vũ
trường Queen Bee. Ngoài việc đi hát hàng đêm cô còn ký giao kèo thu
thanh băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất
trong cuộc đời đi hát. Đến giữa năm 1969, Lệ Thu cùng với chương trình
Jo Marcel dời về vũ trường Ritz trên đường Trần Hưng Đạo. Năm 1970 Lệ
Thu trở lại với vũ trường Tự Do cho đến khi vũ trường này bị nổ hơn một
năm sau.
Lệ Thu tham gia các chương trình ca nhạc trên các đài
phát thanh Sài Gòn, đài Quân Đội và Mẹ Việt Nam và thu âm cho nhiều băng
nhạc. Cùng với Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu là một trong những ca sĩ
nổi tiếng nhất của Sài Gòn cho tới 1975. Sau cuộc hôn nhân đầu đổ vỡ, Lệ
Thu kết hôn với ký giả Hồng Dương nhưng hai người chia tay sau khi có
một con gái tên Thu Uyển.
Trong sự kiện tháng 4 năm 1975, Lệ Thu
quyết định ở lại Việt Nam vì còn mẹ, dù ngày 28 tháng 4 cô đã tới phi
trường, bước chân máy bay nhưng rồi quay về. Lệ Thu gia nhập đoàn Kim
Cương để đi trình diễn. Thời gian đó Lệ Thu hát những ca khúc nhạc mới
và cũng có những thành công như bài Hà Nội niềm tin và hy vọng của Phan
Nhân. Khoảng năm 1978, Lệ Thu có mở một hàng cà phê mang tên con gái út
là Thu Uyển trên đường Phan Tôn, Tân Định với sự cộng tác của Thanh Lan
và nhạc sĩ Lê Văn Thiện.
Tháng
11 năm 1979, Lệ Thu cùng con gái út vượt biển đến Pulau Bidong, sau đó
sang Mỹ vào giữa năm 1980. Hai năm sau hai người con gái lớn của Lệ Thu
cũng vượt biên và đoàn tụ với Lệ Thu tại nam California.
Tại Hoa
Kỳ, Lệ Thu tiếp tục đi hát, tái ngộ với khán giả trong một buổi trình
diễn đặc biệt do Nam Lộc tổ chức tại Beverley Hills. Sau đó cô cộng tác
cùng các vũ trường như Tự Do, Làng Văn và Maxim's. Năm 1981 Lệ Thu thực
hiên băng nhạc đầu tiên của mình ở hải ngoại mang tên Hát trên đường tử
sinh. Tiếp theo là những băng Thu hát cho người gồm nhiều ca khúc đã gắn
liền với tên tuổi của cô.
Đến nay Lệ Thu vẫn tiếp tục ca hát.
Sau khi con cái trưởng thành và lập gia đình, Lệ Thu sống một mình ở
thành phố Fountain Valley.
Ngày 22 tháng 6 năm 2007, Lệ Thu tham
gia chương trình đêm nhạc Trịnh "Rơi lệ ru người" theo ý tưởng của Tib
Hoàng, cháu gái Trịnh Công Sơn cùng với các ca sĩ Hồng Nhung, Mỹ Linh,
Quang Dũng, Cẩm Vân, Thu Minh, Nguyên Thảo và đạo diễn Phạm Hoàng Nam.
Theo sau Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ
Mạnh Phát và kế đó là vũ trường Tự Do vào năm 1962. Thời kỳ đó Lệ Thu
thường trình bày những nhạc phẩm lời Pháp và Anh, nổi bật nhất là các
bản như La Vie En Rose, A Certain Smile, La Mer, Love Is A Many
Splendored Thing... Cũng thời gian đó Lệ Thu thành hôn với một người đi
học ở Pháp về tên Sơn.
Lệ Thu dần nổi tiếng và trở thành một ca sĩ quan trọng của các vũ
trường lớn ở Sài Gòn. Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu
là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự
Do và Ritz. Năm 1968, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại
vũ trường Queen Bee. Ngoài việc đi hát hàng đêm cô còn ký giao kèo thu
thanh băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất
trong cuộc đời đi hát. Đến giữa năm 1969, Lệ Thu cùng với chương trình
Jo Marcel dời về vũ trường Ritz trên đường Trần Hưng Đạo. Năm 1970 Lệ
Thu trở lại với vũ trường Tự Do cho đến khi vũ trường này bị nổ hơn một
năm sau.
Lệ Thu tham gia các chương trình ca nhạc trên các đài phát thanh
Sài Gòn, đài Quân Đội và Mẹ Việt Nam và thu âm cho nhiều băng nhạc. Cùng
với Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu là một trong những ca sĩ nổi tiếng
nhất của Sài Gòn cho tới 1975. Sau cuộc hôn nhân đầu đổ vỡ, Lệ Thu kết
hôn với ký giả Hồng Dương nhưng hai người chia tay sau khi có một con
gái tên Thu Uyển.
Trong sự kiện tháng 4 năm 1975, Lệ Thu quyết định ở lại Việt Nam
vì còn mẹ, dù ngày 28 tháng 4 cô đã tới phi trường, bước chân máy bay
nhưng rồi quay về. Lệ Thu gia nhập đoàn Kim Cương để đi trình diễn. Thời
gian đó Lệ Thu hát những ca khúc nhạc mới và cũng có những thành công
như bài Hà Nội niềm tin và hy vọng của Phan Nhân. Khoảng năm 1978, Lệ
Thu có mở một hàng cà phê mang tên con gái út là Thu Uyển trên đường
Phan Tôn, Tân Định với sự cộng tác của Thanh Lan và nhạc sĩ Lê Văn
Thiện.
Tháng 11 năm 1979, Lệ Thu cùng con gái út vượt biển đến Pulau
Bidong, sau đó sang Mỹ vào giữa năm 1980. Hai năm sau hai người con gái
lớn của Lệ Thu cũng vượt biên và đoàn tụ với Lệ Thu tại nam California.
Tại Hoa Kỳ, Lệ Thu tiếp tục đi hát, tái ngộ với khán giả trong
một buổi trình diễn đặc biệt do Nam Lộc tổ chức tại Beverley Hills. Sau
đó cô cộng tác cùng các vũ trường như Tự Do, Làng Văn và Maxim's. Năm
1981 Lệ Thu thực hiên băng nhạc đầu tiên của mình ở hải ngoại mang tên
Hát trên đường tử sinh. Tiếp theo là những băng Thu hát cho người gồm
nhiều ca khúc đã gắn liền với tên tuổi của cô.
Đến nay Lệ Thu vẫn tiếp tục ca hát. Sau khi con cái trưởng thành
và lập gia đình, Lệ Thu sống một mình ở thành phố Fountain Valley.
LỆ THU: Tiếng Ca Khởi Phụng Đằng Giao.
Năm
1963 hay 1965 gì đó, tôi được nghe Lệ Thu hát bản "Xin Mặt Trời Ngủ
Yên" của Trịnh Công Sơn trong dĩa nhựa microsillon. Cách gào rống vô
cùng độc đáo đến mức trác tuyệt khi cô hát lên cao làm tôi ngưỡng mộ nồng nhiệt. Cũng như bài "Summertime", bài "Xin Mặt Trời Ngủ Yên" là bài
Blue có chổ lên cao,
chỉ có cách gào rống mới diễn tả nổi cái đau banh gan xé ruột. Ở bài
"Summertime" là nổi đau trong kiếp nô lệ nhục nhằn của người Mỹ da đen. Ở bài "Xin Mặt Trời Ngủ Yên" là nổi đau đớn lớn của kiếp nhân sinh. Gào rống mà tiếng hát vẫn giữ vững cao độ, không sai một bán cung lại còn ngân nga rựa ràng như trường hợp Lệ Thu đâu phải dễ. Giọng hát Lệ Thu cao nên cô trình bày các ca khúc Tây phương có chổ lên cao
như "Come Back To Sorrento" của De Curtis, bản "Tristesse" của Chopin,
bản "Serenata" của Enrico Tosselli, bản "Rêveries" của Robert Schumann
đều hay, nhưng chỉ giúp cô nổi tiếng ở phòng trà Tự Do, chứ
chưa đưa cô vào môi trường khách sành điệu lẫn khán thính giả thời
thượng bên ngoài. Và theo tôi, chính những ca khúc theo thể điệu Blue mới làm nổi bật cái độc đáo của tiếng hát cô. Tuy nhiên, ca
khúc "Xin Mặt Trời Ngủ Yên" chỉ là cái cửa mở ngỏ để cô đi vào nhạc của
Trịnh Công Sơn nhưng chưa phải là cái thang để cô leo lên tuyệt đỉnh
vinh quang.
Thật ra, Lệ Thu được khán thính giả bốn phương
ngưỡng mộ qua bài "Ngậm Ngùi" của Phạm Duy. Đây là một trường hợp ngộ
nghĩnh. Vào thuở cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh,
nhạc sĩ Lê Thương có phổ bài thơ này thành ca khúc "Tiếng Thuỳ Dương" và chỉ được vài ca
sĩ đài phát thanh Pháp Á hát vài lần là bị xếp im lìm trong kho tàng
nhạc sử nước nhà. Sau đó rất lâu, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc "Ngậm Ngùi" có nhờ Anh Ngọc thu vào dĩa microsillon để giao duyên với giọng ngâm của Hoàng Oanh.
Bài hát vẫn không được ai chú ý. Chỉ có bài thơ của Huy Cận và giọng
ngâm sắc vút của Hoàng Oanh là còn gây dư vang và tình ý trong lòng
khách mộ điệu mà thôi. Phải đợi giọng diễn tả của Lệ Thu,
bài hát mới nổi danh như cồn. Nhờ vậy, Lệ Thu trở thành một ngôi sao
sáng tuyệt vời trên vòm trời ca nhạc. Có vậy, khi tiếp tục hát thêm các ca khúc của Trịnh Công Sơn, cô mới cùng Khánh Ly làm nổi tiếng các tác phẩm của anh chàng du ca tài ba lỗi lạc này. Khi bài "Ngậm Ngùi" nổi tiếng kỷ lục thì nhạc sĩ Phạm Duy khoái quá, sáng tác bài "Nước Mắt Mùa Thu", lấy ý từ cái tên Lệ Thu để tặng người ca sĩ này. Thật ra thì cái tên Lệ Thu là cái tên khá phổ thông từ thuở xưa. Nhưng Lệ không có nghĩa là nước mắt mà là đẹp: diễm lệ, mỹ lệ, thanh lệ, tú lệ, kiều lệ. Lệ Thu là mùa thu đẹp.
Còn tiếng hát Lệ Thu thì sao? Tiếng cô khàn mà cao vút. Khi lên cao, cô vẫn giữ giọng thật, cô rống lên thật vang dội để cho tiếng trải đều ra, vạm vỡ và dũng mãnh như thác nước Niagara. Những bản "Hương Xưa",
"Hoài Cảm" của Cung Tiến, "Chiếc Lá Cuối Cùng" của Tuấn Khanh, "Ngày Đó
Chúng Mình" của Phạm Duy là những bản để cô biểu diễn giọng cao như bay vút tận trăm tầng cổ tháp và rắn rỏi như đá hoa cương của mình.
Giọng cao
mà khàn khàn, dòn và sáng. Nhưng chuỗi ngân của cô không đều, hơi thô
rít, làn hơi cô hơi ngắn, phải tinh tai lắm mới thấy cô vá víu làn hơi
và chuỗi ngân của mình. Cô trình bày bản nhạc đơn giản, không ỏng ẹo
điệu đà nên tiếng hát dễ đi sâu vào tâm hồn người thưởng ngoạn. Tiếng
hát của Lệ Thu làm cho chúng ta nghĩ đến một trái hỏa châu bắn vọt lên
không trung để tỏa ngời ánh sáng. Nó cũng giống như cây pháo Phi Thiên
Thập Hưởng khi đốt phải phóng lên không trung để cho tiếng vang xa
như sấm rền. Và qua những chuyện thần thọai của Trung Hoa, chúng ta có
thể nghĩ đó là con giao long tu luyện lâu năm nên khi đắc đạo bay vọt
lên chín từng mây biếc, thóat khỏi kiếp sấu để biến thành con rồng
thiêng về chầu đức Ngọc Hòang Thượng Đế. Nó cũng như con phụng từ đỉnh cao chót vót đáp xuống rừng xanh,
"Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có
những đámmây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của
buổi tựu trường… Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và
đầy giá lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài
và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên
tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi
đang có sự thay đổi lớn: Hôm Nay Tôi Đi Học..." Tôi còn nhớ mãi bài "Tôi
đi học" của nhà văn Thanh Tịnh hồi mới lên trung hoc đệ nhất cấp. Do đó
mùa thu vẫn là đề tài được bàn tán muôn thủa bởi những nhà văn, nhà thơ
hay những nhạc sĩ trong kho tàng văn chương hay âm nhạc Việt Nam .
Người ta ca tụng mùa thu, bối cảnh mùa thu được dàn dựng trong những tác
phẩm của họ như những không gian lá vàng rơi hay những chia ly buồn bã.
Tôi yêu mùa thu từ bản chất, yêu cả những bản nhạc mùa thu. Trong khuôn
khổ hạn hẹp của bài này, tôi cố gắng đưa ra một số bài tiêu biểu của
những nhạc sĩ đã sáng tác những tác phẩm về mùa thu. Tôi vốn thích bản
thu ca tiền chiến của nhac sĩ Đoàn Chuẩn - Từ Linh. Cuối thập niên 50
khi tôi còn học tiểu học, thầy giáo của tôi di cư từ miền Bắc vào. Ông
có một tâm hồn nhạc sĩ, chính ông đã để lại trong tôi một ấn tượng thật
tuyệt vời của một mùa "Thu quyến rũ":
"Anh mong chờ mùa thu Trời đất kia ngả màu xanh lơ Đàn bướm kia vui đùa trên muôn hoa Bên những bông hồng đẹp xinh Anh mong chờ mùa thu Dìu thế nhân vào chốn thiên thai Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay Mùa thu quyến rũ anh rồi …"
Trong bối cảnh buồn bã nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói về mùa thu của ông
qua đi khi "Nhìn những mùa thu đi". Thu đi và để lại cho chúng ta những
chia ly, những nuối tiếc sầu rơi, những ý nghĩ riêng tư man mác trong
tâm hồn:
"Nhìn những mùa thu đi Em nghe sầu lên trong nắng Và lá rụng ngoài song Nghe tên mình vào quên lãng Nghe tháng ngày chết trong thu vàng ..."
Khi người ta yêu nhau thì mọi thứ đều từ thiện, người ta sẽ cho nhau
tất cả, từ những tháng ngày, những tặng phẩm quý báu, cho con tim, cho
nhau kỷ niệm, ... với nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, ông cho người tình cả một
bầu trời mùa thu tuyệt vời về nhạc và lời ca . Bài "Mùa thu cho em" được
ra đời năm 67. Chính bài ca này đã đánh thức tôi những cái đáng yêu của
một mùa thu tình ái:
" Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ Em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương Và em có nghe khi mùa thu tới Mang ái ân mang tình yêu tới Em có nghe, nghe hồn thu nói Mình yêu nhau nhé ..."
Mùa thu là mùa của nỗi buồn, của chia tay, của những mối tình dang dở. Ở
tuồi còn đi học, những nam sinh vẫn có những kỷ niệm đến đứng ngẩn ngơ ở
cổng trường con gái như những cửa trường Gia Long, Nguyễn Bá Tòng,
Sương Nguyệt Ánh hay Trưng Vương. Để rồi "Em tan trường về, mưa bay mờ
mờ, anh trao vội vàng chùm hoa mới nở, ép vào cuốn vở”. Người con gái
như đóa hoa hồng, hoa pensé, hoa mimosa hay hoa phượng hồng như môi em.
Một nụ hôn đầu ngất ngây để rồi nhung nhớ mãi mãi về sau. Mùa Hạ đến rồi
mối tình chia ly vì lý do nào đó… Để rồi khi sang mùa thu, mùa tựu
trường cô gái Trưng Vương nhìn lá vàng rơi ngoài đường Nguyễn Bỉnh
Khiêm, theo gió heo may vi vu để nhớ đến người bạn trai xưa với nụ hôn
đầu nồng nàn. Nhà thơ nữ Nguyễn Thị Lệ Thanh đã sáng tác bài thơ "Trưng
Vương, khung cửa mùa thu", và nhạc sĩ Nam Lộc đã soạn thành một ca khúc
ghi dấu những mối tình nhẹ nhàng, nỗi bâng khuâng, những xao xuyến của
tuổi học trò:
"Tim em chưa nghe rung qua một lần! Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần Tình trần mong manh như lá me xanh Ngô ngác rơi nhanh Thu giăng heo may che bóng cây lạnh này Người cho em nghe câu nhớ thương từng ngày… Người mang cho em quen môi hôn ngọt mềm Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng… Nắng vấn vương nhẹ gót chân Trưng Vương vắng xa anh rồi Mùa thu đã qua một lần Chợt nghe bâng khuâng lá rơi đầy sân...”
Mùa thu của những tình tự yêu đương, đã lôi cuốn người nhạc sĩ đã dùng
bối cảnh thu ca như trong nhiều tác phẩm của ông về mùa thu, Phạm Anh
Dũng đã tâm sự những nồng nàn, những cụm từ truyền cảm của ông qua bài
"Gọi mùa thu mơ"
"Anh gọi mùa thu mơ Một sớm thu sương mờ Nai vàng đạp trên lá Bước từng bước xa xa... Anh gọi mùa thu mơ Trời sớm sông không bờ Lá vàng rơi lác đác Dịu dàng cơn gió bay Anh hẹn mùa thu sang...
Mùa thu để chúng ta ru người tình. Khi mùa thu tới người nhạc sĩ hát
khúc thu ca để dìu người yêu vào giấc điệp bình yên, Đức Huy đã ru người
tình của mùa thu như sau:
"Hôm mùa thu gió hát bài ca cũ Mùa thu lá vàng bay Anh ru em ngủ Bài ca dao ta vẫn hát khúc ấu thơ Nắng vàng ấm suối nước dệt mây thu Ngập ngừng trôi giấc mơ Anh ru em ngủ Dài cơn mê thương yêu ấy Những ngày còn ái ân..."
Còn mùa thu của Từ Công Phụng thì như thế nào? Ông ru người yêu về với
mùa thu dịu dàng, du dương với những lối ru nhẹ nhàng, dấu yêu của mây
ngàn bay, hãy nghe bài "Mùa thu mây ngàn":
"Buồn vương mây ngàn giăng khắp lối Mùa thu bơ vơ đến bên trời Ru tóc em suối nguồn Gọi hồn trong gió thu buồn Ngày mai chúng mình xa nhau rồi Cầm tay em nhìn sao không nói ..."
Tuần rồi tôi tình cờ được nghe bài "Dáng thu", người nhạc sĩ đã âu yếm
so sánh vẻ đẹp kiều diễm, đài các của mùa thu như người thiếu nữ trong
những dòng nhac thu ca . Nhật Vũ đã dìu người tình qua vũ điệu Tango:
"Dáng thu vơi buồn như thương nhớ ai Dáng thu về đây mùa thu ơi ai có hay Ta vẫn ngắm mây trời Thương về tóc buông lơi Thương nhớ mãi nụ cười Bờ môi xinh như mộng Từ ngày em đi Đã bao lần thu về rồi ?
Lại một tình cờ khác tôi lắng nghe tiếng đàn của một người nhạc sĩ Mai
Đức Vinh bên phương trời Canada, ông cho chúng ta nghe một bản tình ca
quyến luyến và nhiều vương vấn của người thiếu nữ trong giấc mơ thu của
ông "Thu về hôm nao", thơ Pham Anh Dũng:
".....Này em nhé mắt nâu qua rừng thu Trong bóng thời gian nhả tiếng sương mù Chiều rơi lá chín thương em hương lụa Anh nhặt thu về xây tím áng thơ Chiều sao hoang vắng vàng phai sắc lá Anh viết tình thu trên môi em thôi ."
Một chiều thu đến để rồi Phan Bá Chúc đã làm thơ, đã phổ nhạc từ khung
trời yêu thương Đà Lạt qua ca khúc thật trữ tình và đáng yêu, "Tôi có em
chiều thu":
"Chiều phai mây trắng trôi Trôi qua dòng đời muộn phiền Chiều nay tôi thấy em gọi nắng lên Chiều thu tôi em tôi em như một tình cờ vừa đến Bàn chân em e thẹn, bàn tay em thơ dại Vội vàng con chim bé vỗ cánh bay lên cao Đời cho tôi có em trong một chiều không mong đợi Đời cho tôi có em trong thu về hương tình tới Bàn tay thôi e thẹn, bàn chân thôi thơ dại Chiều nay con chim én líu lo thương đời”
image
Mùa thu 75 đã làm bao nhiêu con tim điêu đứng, Ngô Thụy Miên khi ra xứ
ngồi đã chia sẽ tâm tư của ông qua bài "Thu Sàigòn" như sau:
"Em hỏi anh mùa thu Saigòn Nắng còn vương vương trên hàng phố vắng Em hỏi anh mùa thu Saigòn Nước mắt bây giờ có như mưa tuôn..."
Từ miền trung nam nước Mỹ, nhac sĩ Đỗ Duy Thụy đã bộc lộ tâm sự của ông
khi mùa thu về ta.i Houston với những nhung nhớ mùa chia ly của tình
yêu trong bài "Thu vàng nổi nhớ":
"Theo bước chân em đi thu vàng Tình ơi sao đến muộn màng Nổi nhớ mang theo cung đàn Buồn vương trên bao tháng năm Đời một rừng thu hoang vắng Mơ em là nắng xuân sang Hồn anh mộng cũ chưa tan Tình theo lá thu vàng"
Trong nỗi khắc khoải khôn nguôi, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã tưởng nhớ dến mùa thu năm cũ khi nhìn về người tình
Cũng vì mùa thu năm cũ vơi đầy nhung nhớ, Ngô Thụy Miên âu yếm nhìn vào ánh mắt người tình với bài "Thu trong mắt em":
"Rồi một mùa thu tới cho mắt em buồn trong nắng Mầu tình hôn tóc rối ru má em hồng say đắm ... Ô hay mùa Thu lại về cho mình giăng hẹn hò Gọi tên nhau khi chiều đến Mây Thu vấn vương đan ngập lối đi Ái ân theo hồn vút cao Vết mơ tình xõa tay mềm..."
Nếu mùa thu được dùng như biểu tượng của sự ra đi hay sự chia ly để rồi
dứt khoát một cuộc tình buồn não nề nào đó. Trong bối cảnh buồn của mùa
thu ở vườn Luxemburg với ngập xác lá vàng rơi. Nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu
đã viết bài "Mùa thu không trở lại" để nói lên nỗi sầu tan tác của ông:
"Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại Em ra đi mùa thu, sương mờ giăng âm u Em ra đi mùa thu, mùa thu không còn nữa Đếm lá mùa thu, đo sầu ngập tim tôi…"
Cũng như sự chia ly từ mùa thu dang dỡ, người yêu sẽ tìm quên lãng mùa
thu sầu úa vì tình đã chết trong lòng khi niềm cô đôn chợt đến mà nhạc
sĩ Nam Lộc ghi nhận qua bài "Anh đã quên mùa thu":
"Bây giờ là mùa thu Chiều vắng khói sương mù Hàng cây khô sầu úa Hiu hắt đứng trong mưa Mưa như lệ tình xưa Lệ thấm mãi cho vừa Lệ thương hoa phượng rũ Em có nghe mùa thu ...
Mùa thu về với khung trời Paris của Cung Trầm Tưởng, nhà thơ này đã kể
về chuyện tình mùa thu với nàng kiều nữ tóc nâu người địa phương bên
vườn Luxemburg. Bài thơ "Mùa thu Paris" đuoc nhạc sĩ Pha.m Duy phổ thành
một nhạc phẩm đã đi vào dĩ vàng của Saigon một thời xa xưa:
"Mùa thu Paris, trời buốt ra đi Hẹn em quán nhỏ, hẹn em quán nhỏ Rượu rưng rưng ly đỏ tràn trề ... Mùa thu âm thầm bên vườn Lục Xâm Ngồi quen ghế đá, ngồi quen ghế đá Không em buốt giá từ tâm Mùa thu nơi đâu, người em mắt nâu Tóc vàng sợi nhỏ, tóc vàng sợi nhỏ Chờ mong em chín đỏ trái sầu.." MÙA THU PARIS http://www.youtube.com/watch?v=z4R3fNOvzew
image
Từ một phương trời nào đó Phạm Anh Dũng âu yếm thì thầm với người em
gái mắt nâu của mình bằng những lời yêu dấu để thăm chừng khi nào mùa
thu của tình yêu thực sự đến. Nếu Phạm Trọng Cầu hay Trịnh Công Sơn nhìn
mùa thu đi với nỗi niềm tiêu cực thì tương phản thì Phạm Anh Dũng lại
nhìn mùa thu ở khía cạnh tích cực. Nào chúnh ta hãy nghe lời hát của
Pha.m Anh Dũng qua bài "Mùa thu về chưa em nhỉ":